Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai: Bài toán lộ trình, hạ tầng và con người

calendar-icon 13/02/26 11:25
Tác giả: Sỹ Điền

Theo Giáo dục thời đại - Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai và tích hợp chuẩn năng lực số, trí tuệ nhân tạo vào chương trình giáo dục vừa là cơ hội và thách thức khi triển khai những yêu cầu mới này.

Từng bước hiện thực hóa mục tiêu đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học. Ảnh minh họa: ITN

Chuyển đổi số bắt đầu từ giáo viên

Nằm cách đường biên giới hơn 10km, Trường Phổ thông Dân tộc bán trú Tiểu học Tùng Vài (tỉnh Tuyên Quang) có gần 600 học sinh, trong đó 99% dân tộc thiểu số, chủ yếu người Mông và Dao, sinh sống rải rác ở các thôn, bản xa trường. Phần lớn phụ huynh làm nương rẫy hoặc đi làm ăn xa, khả năng hỗ trợ việc học của con em hạn chế.

Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số không chỉ là yêu cầu từ chủ trương chung mà trở thành bài toán cụ thể: Làm thế nào để học sinh vùng biên có thể tiếp cận học tập số, khi thiết bị thiếu, mạng Internet yếu và kỹ năng công nghệ còn nhiều hạn chế.

Theo cô Giàng Thị Dế – Phó Hiệu trưởng Trường Phổ thông Dân tộc bán trú Tiểu học Tùng Vài, điểm xuất phát của nhà trường khi đưa các nền tảng học tập số như Khan Academy vào giảng dạy không phải thiết bị, mà là con người. Ở ngôi trường mà phần lớn học sinh ở bán trú từ thứ Hai đến thứ Sáu, giáo viên không chỉ dạy trên lớp, mà còn phải theo sát, kèm cặp, tạo nền nếp học tập cho các em.

Nhiều học sinh không có điều kiện học trực tuyến ở nhà vì thiếu thiết bị, nên nhà trường chủ động tổ chức cho các em học ngay tại trường. Ngoài giờ học chính khóa, giáo viên tranh thủ buổi tối để hướng dẫn học sinh đăng nhập, làm bài, xem lại video bài giảng khi chưa hiểu. Không ít thầy cô sẵn sàng cho học sinh mượn thiết bị cá nhân để các em có thể tiếp tục học tập.

Cô Dế cho hay, nhà trường có khoảng 35 máy tính. Theo đó, trường tổ chức chia giờ, nhóm để các lớp luân phiên học. Nguyên tắc đặt ra là học phải có người kèm. Khi mạng Internet yếu, giáo viên linh hoạt sử dụng 4G để duy trì việc học. Học sinh làm chưa đạt được hướng dẫn làm lại đến khi nắm chắc kiến thức, không vì điểm số mà vì hiểu bài.

Theo cô Dế, sự xuất hiện của nền tảng học tập số đã làm thay đổi rõ nét vai trò của giáo viên. Thay vì chỉ “dạy xong một tiết”, thầy cô theo sát cả quá trình học từng học sinh. Dữ liệu tiến độ và kết quả học tập giúp giáo viên nhận diện rõ em nào chưa làm bài, đang gặp khó để kịp thời hỗ trợ.

Với học sinh vùng cao, nếu bị hổng kiến thức rất dễ nản. Công nghệ, trong trường hợp này trở thành công cụ giúp giáo viên nhắc nhở đúng lúc, tháo gỡ đúng chỗ, giúp các em tiến bộ từng ngày.

Điều khiến giáo viên bất ngờ là sự hào hứng của học sinh khi tiếp cận hình thức học tập mới. “Một học sinh người Dao lớp 4 từng học toán chậm, làm sai nhiều khi mới bắt đầu, nhưng nhờ được xem lại video và làm lại bài nhiều lần, em dần tiến bộ và duy trì việc học đều đặn mỗi tháng. Trải nghiệm đó cho thấy, khi được hướng dẫn đúng cách và có cơ hội làm lại, học sinh sẽ tự tin và kiên trì hơn”, cô Dế chia sẻ.

Ngoài kiến thức, cô Dế kỳ vọng, về lâu dài học sinh hình thành thói quen tự học và sự tự tin với công nghệ. Việc thường xuyên thao tác trên máy tính, điện thoại giúp các em quen dần với môi trường số, hỗ trợ cả việc học Tin học và tham gia các sân chơi trực tuyến.

Các chuyên gia, nhà giáo chia sẻ giải pháp từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học. Ảnh: ITN

Tích hợp trí tuệ nhân tạo, chuẩn năng lực số

Ông Nguyễn Thế Sơn - Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Phổ thông (Bộ GD&ĐT), cho rằng, việc học tập phải đi liền với giảng dạy, nếu mong muốn triển khai giáo dục trí tuệ nhân tạo cho học sinh phổ thông thì đòi hỏi giáo viên phải được trang bị những kiến thức cơ bản, cần thiết về trí tuệ nhân tạo, hình thành những năng lực trí tuệ nhân tạo mới đáp ứng được nhu cầu dạy, học.

Do đó, việc xác định các miền năng lực trí tuệ nhân tạo của giáo viên ứng với các tiêu chí, chỉ báo phải được nghiên cứu kỹ lưỡng, phù hợp theo từng nhóm đối tượng giáo viên và đảm bảo đồng bộ với Khung nội dung giáo dục trí tuệ nhân tạo dành cho học sinh phổ thông khi triển khai.

Chương trình Mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035 đề ra mục tiêu đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong hệ thống giáo dục quốc dân. Trong đó, năm 2030 phấn đấu tối thiểu 30% cơ sở giáo dục phổ thông có giáo viên đủ năng lực giảng dạy một số môn khoa học tự nhiên và STEM/STEAM bằng tiếng Anh, và triển khai thí điểm dạy học bằng tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai ở một số môn. Năm 2035, phấn đấu đạt 100% cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông có đủ thiết bị dạy học để triển khai đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học.

Theo bà Đoàn Thị Lê An - đoàn ĐBQH tỉnh Cao Bằng, đây là định hướng lớn, thể hiện quyết tâm hội nhập quốc tế sâu rộng. Tuy nhiên, để triển khai thành công cần đánh giá thẳng thắn, kỹ lưỡng những điều kiện và thách thức về cơ sở vật chất cũng như nhân lực và môi trường thực hiện. Từ đó, có giải pháp đầu tư mạnh mẽ, đồng bộ; chuẩn hóa đội ngũ giáo viên; hỗ trợ đặc thù cho vùng dân tộc thiểu số, miền núi và có lộ trình phù hợp với thực tiễn từng vùng, địa phương.

Ngoài ra, cần cụ thể, ban hành chương trình quốc gia đào tạo giáo viên giảng dạy môn học bằng tiếng Anh, mục tiêu đào tạo ít nhất 20.000 giáo viên môn Toán - Khoa học tự nhiên - Tin học có khả năng giảng dạy bằng tiếng Anh đến năm 2035. Đồng thời, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho các tỉnh miền núi như: Hỗ trợ xây dựng phòng ngoại ngữ chuẩn cho 100% trường huyện miền núi trước năm 2030; ưu tiên vùng miền núi, biên giới, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn…

Về mục tiêu đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai, bà Ma Thị Thúy - đoàn ĐBQH tỉnh Tuyên Quang, đề nghị Chính phủ cân nhắc lộ trình đặc thù cho miền núi; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, kết nối lớp học trực tuyến, trí tuệ nhân tạo để bù đắp thiếu giáo viên; xây dựng trung tâm tiếng Anh vùng khó khăn theo mô hình liên xã.

Lộ trình 3 giai đoạn trọng tâm

Mục tiêu đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai, phát triển năng lực số ngay từ phổ thông đặt ra rất cao. Trong bối cảnh thiếu giáo viên đạt chuẩn và hạ tầng đồng bộ, GS.TS Nguyễn Đình Đức – Trường Đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội), gợi mở, chúng ta nên ưu tiên thực hiện theo lộ trình hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm và gắn với thực tế năng lực từng vùng. Theo đó, lộ trình nên tập trung vào ba giai đoạn chính:

Thứ nhất, xây dựng nền tảng hạ tầng và chuẩn năng lực giáo viên tiếng Anh trong các trường phổ thông và cả ở bậc đại học. Giáo dục đại học phải đi đầu và tiên phong, đồng thời trước khi mở rộng đại trà, cần đầu tư đồng bộ vào hệ thống hạ tầng số ở các trường phổ thông, đặc biệt ở vùng nông thôn, miền núi; tập trung bồi dưỡng giáo viên tiếng Anh và tin học đạt chuẩn quốc tế, ưu tiên hình thức đào tạo trực tuyến kết hợp và đặc biệt là ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong giảng dạy, kiểm tra đánh giá để tiết kiệm chi phí và mở rộng tiếp cận.

Thứ hai, thí điểm và nhân rộng có chọn lọc. Nên triển khai thí điểm tại các đô thị lớn và một số tỉnh đại diện cho từng vùng miền để đánh giá hiệu quả, sau đó rút kinh nghiệm và nhân rộng, thay vì triển khai ồ ạt.

Thứ ba, phát triển hệ sinh thái học tập số và học liệu mở, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ mới và trí tuệ nhân tạo trong dạy và học tiếng Anh. Cần xây dựng kho học liệu song ngữ, nền tảng dạy – học tiếng Anh và năng lực số dùng chung toàn quốc, để mọi học sinh, dù ở đâu, cũng có thể học cùng một nội dung chuẩn.

“Quan trọng hơn, xem tiếng Anh, ngoại ngữ và năng lực số không phải môn học riêng biệt, mà là công cụ để học các môn khác, để sống và làm việc trong môi trường toàn cầu hóa. Khi đó, việc học tiếng Anh và kỹ năng số mới thật sự đi vào chiều sâu và bền vững”, GS.TS Nguyễn Đình Đức nhấn mạnh.

Khẳng định, nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Anh là yếu tố then chốt trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời kỳ hội nhập, GS.TS Lê Anh Vinh - Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, nhấn mạnh, dạy - học ngoại ngữ cần được nhìn nhận trong bối cảnh toàn cầu, nơi ngoại ngữ không chỉ là công cụ giao tiếp, mà còn là phương tiện tiếp cận tri thức. Sử dụng tiếng Anh trong giảng dạy các môn học sẽ tạo ra môi trường ngôn ngữ tự nhiên, giúp học sinh phát triển tư duy đa chiều, khả năng thích ứng với thách thức.

Bài viết liên quan

Hoàn thiện Quy chế thi tốt nghiệp THPT trong bối cảnh mới

Hoàn thiện Quy chế thi tốt nghiệp THPT trong bối cảnh mới

calendar-icon 25/12/25 08:30
Theo Giáo dục thời đại - Dự thảo sửa đổi, bổ sung Quy chế thi tốt nghiệp THPT đã được Bộ GD&ĐT công bố. Thí sinh thi tốt nghiệp THPT năm 2025. Ảnh: Vân Anh Định hướng lớn là giữ kỳ thi cơ bản ổn định, một số sửa đổi nhằm phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, sắp xếp lại công tác thanh tra và tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các khâu tổ chức thi. Nâng cao tính an toàn, minh bạch và trách nhiệm Chia sẻ những điểm mới đáng chú ý trong dự thảo sửa đổi, bổ sung Quy chế thi tốt nghiệp THPT, ông Nguyễn Ngọc Hiền - Hiệu trưởng Trường THPT Hương Vinh (TP Huế) cho biết: Dự thảo quy định hồ sơ đăng ký dự thi chỉ lưu tại trường phổ thông. Giấy báo dự thi và thẻ dự thi được tích hợp thành một loại duy nhất là “Giấy báo dự thi”; Giấy chứng nhận tốt nghiệp tạm thời và Giấy chứng nhận kết quả thi được tích hợp thành “Giấy chứng nhận kết quả thi”. Hai loại giấy tờ này đều do...
Lần đầu áp dụng chuẩn nghề nghiệp thống nhất cho giảng viên đại học công lập và ngoài công lập

Lần đầu áp dụng chuẩn nghề nghiệp thống nhất cho giảng viên đại học công lập và ngoài công lập

calendar-icon 13/04/26 11:24
Theo Nhân lực Nhân tài Việt - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 26/2026/TT-BGDĐT, lần đầu thiết lập chuẩn nghề nghiệp thống nhất áp dụng cho toàn bộ đội ngũ giảng viên tại các cơ sở giáo dục đại học, không phân biệt công lập hay ngoài công lập. Quy định mới góp phần tạo mặt bằng chung về chất lượng, đồng thời định hình rõ yêu cầu và lộ trình phát triển nghề nghiệp của giảng viên. Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 26/2026/TT-BGDĐT quy định chuẩn nghề nghiệp giảng viên đại học, nhằm cụ thể hóa Luật Nhà giáo và tạo cơ sở thống nhất trong quản lý, phát triển đội ngũ. Điểm mới đáng chú ý là mở rộng phạm vi áp dụng đối với toàn bộ giảng viên tại các cơ sở giáo dục đại học, bao gồm cả công lập và ngoài công lập, thay vì chỉ giới hạn ở khu vực công lập như trước đây. Giờ học sinh viên Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội (Ảnh: ULIS-VNU) Thông tư quy định hệ thống nhiệm vụ của giảng...
Quy định tiêu chuẩn, điều kiện xét thăng hạng lên hạng II

Quy định tiêu chuẩn, điều kiện xét thăng hạng lên hạng II

calendar-icon 10/12/25 08:15
Theo Giáo dục thời đại - Độc giả hỏi quy định thời gian giữ chức danh và điều kiện để dự thi hoặc xét lên hạng, của giáo viên tiểu học. Minh họa/INT Tôi tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm Mỹ thuật năm 2010. Sau đó, tôi là giáo viên hợp đồng môn Mỹ thuật ở trường THCS, có đóng BHXH từ tháng 9/2010 đến tháng 9/2017. Tháng 2/2019, tôi tốt nghiệp đại học chuyên ngành tiểu học và dự thi viên chức giáo viên tiểu học. Từ tháng 4/2020, tôi được xếp vào chức danh giáo viên tiểu học hạng II, hệ số lương 2,34. Ngày 1/7/2024, tôi được xét xếp vào giáo viên tiểu học hạng III mới, hệ số lương 3,00. Vừa qua, khi có đợt xét thăng hạng giáo viên tiểu học hạng II, tôi được trả lời không đủ điều kiện vì chưa đủ 9 năm giữ vị trí của giáo viên tiểu học hạng III. Xin hỏi, thời gian tôi làm giáo viên hợp đồng, có đóng BHXH từ tháng 9/2010 tới tháng 9/2017 có được tính để xét là thời gian tương đương giữ chức danh giáo viên tiểu học hạng III để...